Thứ ba 26/06/2018
Thông tin thương mại giao nhận vận tải
Liên kết mạng xã hội
Tỷ giá ngoại tệ
Tài liệu mới
Liên kết website
Thống kê
001169216
Hôm nayHôm nay19
Hôm quaHôm qua193
Tuần nàyTuần này212
Tháng nàyTháng này5152
Tất cảTất cả1169216
Hiện có 57 khách Trực tuyến
Thị trường xuất nhập khẩu
Tiềm năng xuất khẩu nguyên liệu sản xuất nhựa sang Thổ Nhĩ Kỳ     Để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, hàng năm Thổ Nhĩ Kỳ nhập khẩu nhóm hàng nguyên liệu nhựa khoảng trên 10 tỷ USD. Điều này tạo ra cơ hội lớn cho các nước xuất khẩu, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam vào Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nguyên liệu nhựa của nước này.Sản xuất và tiêu thụTại thời điểm này, Thổ Nhĩ Kỳ có khoảng 5.000 công ty hoạt động trong lĩnh vực nhựa, hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có khoảng trên 100 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, lực lượng lao động 250.000 người, ước tính hàng năm lĩnh vực này tạo cơ hội việc làm cho khoảng 20.000 lao động mới. Các doanh nghiệp nhựa Thổ Nhĩ Kỳ phần lớn có trụ sở, nhà máy tại thành phố Istanbul và Izmir.Với lực lượng lao động hùng hậu, sử dụng công nghệ hiện đại, ngành nhựa Thổ Nhĩ Kỳ đã có bước phát triển nhanh chóng. Ước tính, hiện nay sản xuất nhựa của Thổ Nhĩ Kỳ đạt khoảng trên dưới 9 triệu tấn, chiếm khoảng 3% thị trường toàn cầu và nằm trong nhóm đứng đầu khu vực Châu Âu cùng với các nước Đức, Ý, Pháp, Tây Ban Nha.Do có lợi thế về sự ra đời muộn, sử dụng công nghệ tân tiến, nên sản phẩm nhựa của Thổ Nhĩ Kỳ khá đa dạng, được dùng trong lĩnh vực xây dựng, công nghiệp ô tô, đóng gói, dẫn nước, đồ dùng nhà bếp, trong nhà…đáp ứng được nhu cầu nội địa và quốc tế về chất lượng.Tuy nhiên, việc sự dụng nguồn nguyên liệu nội địa của Thổ Nhĩ Kỳ rất hạn chế, chỉ đáp ứng được khoảng 15 - 20% nhu cầu sản xuất và xuất khẩu (trong đó có đến 60% nhựa nguyên liệu được sản xuất trong nước dành cho xuất khẩu), còn lại phải nhập khẩu. Nguyên liệu nhựa trong nước được cung cấp chủ yếu bởi Tập đoàn Hóa dầu Thổ Nhĩ Kỳ PETKIM. Tính riêng năm 2011, Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất được 820 ngàn tấn nguyên liệu nhựa, trong đó PETKIM sản xuất được 670 ngàn tấn.Trong các nguyên liệu nhựa Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất được thì nhựa dẻo nhiệt chiếm đến 90%, trong đó PETKIM cung cấp đến 30%. Ngoài ra, còn có một số nhà sản xuất nguyên liệu nhựa khác như Khu liên hợp Aliaga (thuộc PETKIM), Tập đoàn tinh chế dầu lửa TUPRAS sản xuất các nguyên liệu cơ bản như PE, PS, PP, PVC và các nguyên liệu hóa chất khác như ethylene glycol, phthalic anhydride, terephthalic acid, carbon black. Ngoài ra, Thổ Nhĩ Kỳ cũng sản xuất được nhựa tái chế và đáp ứng được 10% nhu cầu nội địa.Mức sử dụng sản phẩm nhựa bình quân đầu người hiện nay của Thổ Nhĩ Kỳ ước tính đạt khoảng 64kg/năm, thấp hơn so các nước phát triển. Nhóm sản phẩm nhựa được tiêu thụ mạnh nhất là đóng gói, với 27%. Tiếp đến là nhóm dùng cho lĩnh vực xây dựng 14%, dệt may 11%, đồ đạc dùng trong nhà 10%. Trên 90% hàng nhựa được bán trong nước là nhập khẩu.Ngành công nghiệp nhựa Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay đã áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia cũng như quốc tế và EU, áp dụng cho tất cả các loại sản phẩm từ nguyên liệu thô cho đến bán thành phẩm và thành phẩm, như: TSE, ISO, CE Mark.Nhập siêu cao nhóm nguyên liệu nhựaLà quốc gia có dân số lên đến trên 75,6 triệu người, nền công nghiệp phát triển nên nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng nhựa ở Thổ Nhĩ Kỳ rất cao, trong khi nguồn nguyên liệu nội địa không đáp ứng được, do vậy việc nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm nhựa của nước này được đánh giá rất tiềm năng.   Về xuất khẩu, bảng thống kê trên cho thấy, xuất khẩu nhóm hàng nhựa của Thổ Nhĩ Kỳ đã có mức tăng trưởng khá cao và đều đặn trong những năm gần đây. Nếu như kim ngạch năm 2009 đạt 3,094 tỷ USD, đến năm 2013 con số này đã tăng lên 5,611 tỷ USD, tăng 81,4% so năm 2009. Cụ thể, so cùng kỳ năm trước, năm 2010 tăng 20,1%, năm 2011 tăng 23,2%, năm 2012 tăng 9,5%, năm 2013 tăng 12%. Riêng 4 tháng đầu năm 2014 tăng 16%.Chủng loại nhựa xuất khẩu chủ yếu của Thổ Nhĩ Kỳ là các sản phẩm dùng để đóng gói, dùng trong lĩnh vực dệt, đồ dùng trong nhà, nhà bếp, nhựa tấm, màng mỏng, nhựa ống, túi bao bì nhựa, các bán thành phẩm đàn hồi của Container chở hàng, các phụ kiện dùng cho máy giặt, v. v...Thổ Nhĩ Kỳ xuất khẩu nhóm hàng nhựa sang trên 100 nước trên thế giới, chủ yếu là các nước trong khối EU, Nga, các nước thuộc Liên Bang Xô viết cũ và các nước Trung Đông. Trong đó, I-rắc là nước luôn đứng đầu, tiếp theo là Đức, Iran, A-déc-bai-gian, Pháp, Nga, v. v...Cũng giống như xuất khẩu, nhập khẩu nhóm hàng nguyên liệu và sản phẩm nhựa của Thổ Nhĩ Kỳ cũng đạt mức tăng trưởng cao trong thời gian qua. Kim ngạch nhập khẩu năm 2013 đạt 13,881 tỷ USD, trong khi đó mức này năm 2009 chỉ là 6,944 tỷ USD. Cụ thể, so cùng kỳ năm trước, mức tăng năm 2010 là 40,1%, năm 2011 tăng 29,3%, năm 2012 giảm nhẹ 0,6%, năm 2013 tăng 11%. Riêng 4 tháng đầu năm 2014 tăng 4,3%.Như đã đề cập ở phần trên, do Thổ Nhĩ Kỳ chỉ tự đáp ứng được nguyên liệu nhựa khoảng 15 - 20%, nên để đáp ứng nhu cầu sản xuất và xuất khẩu nước này chủ yếu phải dựa vào nhập khẩu. Thực tế cho thấy, nguyên liệu chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng này.Thổ Nhĩ Kỳ nhập khẩu nhóm hàng nhựa từ trên 100 quốc gia trên thế giới, trong đó 63% nhập khẩu từ Saudi Arabia, Đức, Bỉ, Hà Lan, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Pháp và Mỹ.Việt Nam cũng nằm trong số các nước Thổ Nhĩ Kỳ nhập khẩu nhóm hàng nguyên liệu nhựa. Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt mức tăng trưởng cao. Nếu như năm 2011 đạt 7,1 triệu USD, đến năm 2013 con số này được nâng lên mức 20,7 triệu USD, tăng 191,5% so năm 2011. Cụ thể, so cùng kỳ năm trước, năm 2012 đạt 17,6 triệu USD, tăng 147,9%; năm 2013 đạt 20,7 triệu USD, tăng 17,6%; riêng 4 tháng đầu năm 2014 đạt 7,4 triệu USD, giảm 14%, tuy nhiên dự báo sẽ tăng trở lại trong nửa cuối năm 2014 do nhu cầu thị trường.Tuy có mức tăng trưởng cao, nhưng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nguyên liệu nhựa của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ còn thấp và chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trên 0,1% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của Thổ Nhĩ Kỳ, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần nỗ lực chủ động hơn nữa trong việc nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại, tìm kiếm đối tác…Như vậy, Thổ Nhĩ Kỳ là nước nhập siêu rất cao nhóm hàng nguyên liệu nhựa. Cụ thể, năm 2009 nhập siêu 3,850 tỷ USD, bằng 124,4% xuất khẩu; năm 2010 nhập siêu 6,013 tỷ USD, bằng 161,8% xuất khẩu; năm 2011 nhập siêu 7,998 tỷ USD, bằng 174,6% xuất khẩu; năm 2012 nhập siêu 7,492 tỷ USD, bằng 149,5% xuất khẩu; năm 2013 nhập siêu 8,27 tỷ USD, bằng 147,4% xuất khẩu; 4 tháng đầu năm 2014 nhập siêu 2,783 tỷ USD, bằng 141,5% xuất khẩu. Vụ Thị trường châu Phi, Tây Á, Nam ÁTrích nguồn: http://www.moit.gov.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1355) | Bình luận (0) | Facebook
Xuất khẩu dệt may đạt hơn 7,4 tỉ USD     Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong năm tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc ước đạt hơn 7,4 tỉ USD, tăng 17% so với cùng kỳ.Trong đó sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên ước tăng 17%, sản lượng quần áo mặc thường tăng 12,5% so với cùng kỳ.Hiện nay, để chuẩn bị sẵn sàng điều kiện khai thác các cơ hội đến từ Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), sự chủ động về nguồn cung trong ngành (nhất là sợi, dệt nhuộm) đang gia tăng nhanh chóng. Một loạt doanh nghiệp sản xuất sợi quy mô lớn trong nước có kế hoạch mở rộng quy mô đầu tư, nâng cao năng lực cung cấp sợi, giảm dần giá trị nhập khẩu.Trước những căng thẳng về tình hình biển Đông trong thời gian vừa qua, để tránh việc phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã có công văn kêu gọi các doanh nghiệp trong ngành chủ động tìm các thị trường tiềm năng khác để nhập khẩu nguyên phụ liệu như Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Ấn Độ…MINH LONGNguồn: Báo điện tử Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh Trích nguồn: http://www.thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1339) | Bình luận (0) | Facebook
Thanh long Việt Nam "đi Tây": Không dễ!     New Zealand vừa ký kết “Chương trình bảo đảm chính thức” để nhập khẩu thanh long Việt Nam vào nước này. Đây là cơ hội ngàn vàng. Tuy nhiên, để có chỗ đứng nơi trời Tây, trái thanh long phải bảo đảm các tiêu chuẩn gắt gao về an toàn thực phẩm.   Tại Bình Thuận, thủ phủ thanh long của cả nước, đa phần nông dân chuyên trồng thanh long tỏ ra không mấy mặn mà khi đón nhận thông tin nói trên.Thị trường Trung Quốc: Nhiều rủi roTheo thống kê của Hiệp hội Thanh long tỉnh Bình Thuận, hiện sản lượng thanh long toàn tỉnh trên dưới 450.000 tấn/năm. Khoảng 80% sản lượng được xuất khẩu sang Trung Quốc; còn lại tiêu thụ nội địa và một số xuất sang thị trường Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Singapore...Ông Bùi Đăng Hưng, Chủ tịch Hiệp hội thanh long Bình Thuận, cho biết: từ trước đến nay, Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ phần lớn thanh long của Bình Thuận. Thế nhưng thị trường này tiềm ẩn nhiều rủi ro và liên tục biến động. Hơn nữa, hiện Trung Quốc đã bắt đầu trồng thanh long tại nước họ với quy mô lớn thì vấn đề xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ càng trở ngại hơn. Cũng theo ông Hưng, gần một tháng qua, thanh long Bình Thuận rớt giá thê thảm do thương lái tung tin Trung Quốc sẽ đóng cửa thị trường. “Tuy nhiên, hiện giao thương giữa hai bên qua các cửa khẩu vẫn diễn ra bình thường”- ông Hưng nói.Theo chị Nguyễn Thị Vân, một chủ vườn thanh long ở huyện Hàm Thuận Nam, khi thương lái tung tin đồn đóng cửa khẩu và liên tục ép giá, thanh long loại đẹp giờ chỉ còn khoảng 6.000 đồng/ kg (giảm hơn 50%), loại thường chỉ còn 3.000 đồng/kg (giảm gần 40%). “Mua bán với thương lái chuyên xuất sang Trung Quốc là vậy đó. Họ thường tung tin dỏm để ép giá. Nông dân chúng tôi luôn bị thiệt thòi...”- nhiều nhà vườn thanh long ở Bình Thuận than vãn.   Thị trường mới còn xa lắmViệt Nam vinh dự là quốc gia đầu tiên và duy nhất được cấp phép xuất khẩu thanh long sang New Zealand. Thế nhưng rào cản kỹ thuật về dịch hại và vệ sinh an toàn thực phẩm của nước này cực kỳ khắt khe, rất ít doanh nghiệp đáp ứng được. Thanh long nhập khẩu vào thị trường New Zealand phải bảo đảm sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và phải qua xạ nhiệt.Hiện nay, theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Thuận, tổng diện tích thanh long toàn tỉnh gần 22.000 ha nhưng chỉ khoảng 7.500 ha được cấp chứng nhận VietGAP, 222 ha được cấp chứng nhận GlobalGAP. Toàn tỉnh có 206 cơ sở kinh doanh trái thanh long nhưng chỉ có 23 cơ sở được cấp chứng nhận bảo đảm an toàn thực phẩm.“Trước đây, Chile đồng ý nhập khẩu thanh long Bình Thuận nhưng khi xuất được một container thì bị vướng chất lượng sản phẩm nên đã bỏ thị trường này 2 năm nay”- ông Hưng cho biết.Nói về vai trò của Hiệp hội Thanh long trong việc xuất khẩu trái thanh long vào thị trường  mới, ông Hưng cho rằng thiếu hành lang pháp lý để hoạt động. Toàn tỉnh có khoảng 252 doanh nghiệp thu mua trái thanh long nhưng chỉ có 50 đơn vị vào hiệp hội. “Các doanh nghiệp vẫn tự kiếm thị trường, thỏa thuận mua bán, chỉ khi nào bị thiệt thòi mới “cầu viện” hiệp hội bảo vệ quyền lợi”- ông Hưng chia sẻ.Bà Trần Thị Phương, chủ doanh nghiệp Liên Phương, huyện Hàm Thuận Nam, nhận xét: Thị trường New Zealand nghe hấp dẫn nhưng quá nhiều yêu cầu khắt khe; đầu tư nhà xưởng, máy móc hiện đại rất tốn kém... nên doanh nghiệp khó đáp ứng được.   Theo Bạch Long (Người Lao Động) Trích nguồn: http://hcm.24h.com.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1355) | Bình luận (0) | Facebook
Xuất khẩu điện thoại và linh kiện 4 tháng đầu năm tăng trưởng mạnh     Kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện tháng 4/2014 tăng 29,72% so với tháng trước đó, đạt 2,61 tỷ USD; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng đầu năm 2014 lên 8,08 tỷ USD, dẫn đầu trong tất cả các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 17,37% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất là thị trường tiêu thụ nhiếu nhất nhóm hàng này của Việt Nam, chiếm 14,84% tổng kim ngạch, đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 17,54% so với cùng kỳ năm ngoái; Hoa Kỳ đứng vị trí thứ 2 với 515,57 triệu USD, chiếm 6,38%, tăng 505,63%; tiếp đến Áo 514,95 triệu USD, chiếm 6,38%, tăng 16,27%; Hàn Quốc 497,81 triệu USD, chiếm 6,16%, tăng 2.380%; Anh 442,75 triệu USD, chiếm 5,48%, tăng 27,17%; Đức 406,91 triệu USD, chiếm 5,04%, giảm 30,38%.Xuất khẩu nhóm hàng này 4 tháng đầu năm sang đa số các thị trường đều tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó đáng chú ý nhất là xuất khẩu sang Hàn Quốc tuy đứng thứ 4 về kim ngạch, nhưng so với cùng kỳ đạt mức tăng rất mạnh tới 2.380%; bên cạnh đó là các thị trường cũng tăng 100% so cùng kỳ như: Hoa Kỳ (+505,63%), Braxin (+322,92%), Thổ Nhĩ Kỳ (+159,23%), Trung quốc (+107,11%). Ngược lại, xuất khẩu điện thoại sang Campuchia lại sụt giảm mạnh trên 84% so với cùng kỳ năm ngoái.        Hiện tại, sản phẩm điện thoại và linh kiện xuất khẩu hầu hết là của nhà máy Samsung Electronics Việt Nam. Nhà máy tại Việt Nam là nhà máy sản xuất điện thoại di động lớn nhất trên thế giới của Samsung, với khả năng cung cấp các sản phẩm điện thoại di động và máy tính bảng (từ dòng phổ thông đến dòng cao cấp mới nhất) cho thị trường toàn cầu. Năm 2013 Samsung Vina Electronics XK đạt 23,9 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch XK của cả nước; tùy theo sản phẩm, mức  tỉ lệ nội địa hóa đang đạt từ 30-33%. Nhà máy Samsung Electronics Việt Nam (tại Bắc Ninh) đang chủ yếu sản xuất dòng điện thoại thông minh (smartphone). Hiện nhà máy này đã sản xuất và xuất khẩu đạt 35% lượng smartphone Galaxy mà Samsung bán ra thị trường toàn cầu.Mục tiêu của Samsung trong thời gian tới là tập trung mở rộng nhà máy tại Việt Nam, đẩy mạnh lượng sản xuất và khẩu khẩu các dòng smartphone sản xuất tại Việt Nam chiếm 50% lượng smartphone của hãng bán ra trên toàn cầu.Samsung đã tiếp tục đầu tư Dự án Khu tổ hợp công nghệ cao Samsung Thái Nguyên (SEVT) tại KCN Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên, tổng diện tích 100 ha, với công suất thiết kế 100 triệu sản phẩm mỗi năm. Nhà máy đầu tiên của dự án sẽ chuyên sản xuất các thiết bị di động và các linh kiện cho điện thoại di động đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 3-2014. Dự kiến đến cuối tháng 12-2014, nhà máy sẽ có 16.000 nhân viên và đạt công suất 8 triệu sản phẩm/tháng.  Thủy ChungNguồn:Bộ Công Thương Trích nguồn: http://thuongmai.vn/
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1371) | Bình luận (0) | Facebook
Kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc 4 tháng đạt gần 2,54 tỷ USD     Tháng 4/2014, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Hàn Quốc đạt mức tăng mạnh tới 83,4% so với tháng 3/2014, đạt trên 1,03 tỷ USD; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này 4 tháng đầu năm 2014 lên 2,54 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm ngoái.Những nhóm hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc đạt kim ngạch lớn gồm: dệt may, điện thoại, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính, giày dép. Trong đó, nhóm hàng hàng dệt may tiếp tục đứng đầu về kim ngạch với 570,61 triệu USD, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm ngoái; tuy nhiên, tính riêng trong tháng 4/2014, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này lại giảm 19,8% so với tháng trước, trị giá đạt hơn 131,3 triệu USD. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu áo khoác nữ và áo kiểu nữ, đầm nữ và đồ bơi sang Hàn Quốc.Nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện đã vươn lên đứng thứ 2 về kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc, đạt 497,81 triệu USD, tăng 2.380,5% so với cùng kỳ năm trước; Tiếp đến nhóm hàng thủy sản, đạt 177,62 triệu USD, tăng 50,5% so với cùng kỳ năm ngoái; tính riêng trong tháng 4/2014, mặt hàng này tăng 2,7% so với tháng trước, trị giá đạt 52,1 triệu USD.Nhìn chung trong 4 tháng đầu năm 2014, hầu hết các mặt hàng của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc đều có mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng đột biến tới 2.380% về kim ngạch; bên cạnh đó, xuất khẩu sang một số thị trường cũng tăng cao trên 100% so cùng kỳ như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (+966%); quặng và khoáng sản khác (+855,8%); sắt thép (+277,6%); thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh (+171,7%). Ngược lại, xuất khẩu nhóm hàng phương tiện vận tải và phụ tùng lại sụt giảm mạnh tới 80,0% so với cùng kỳ năm trước.    Thủy ChungNguồn: Bộ Công Thương Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1360) | Bình luận (0) | Facebook
Xuất khẩu cá ngừ sang EU vẫn khả quan     Trong khi XK cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ và Nhật Bản vẫn chưa có dấu hiệu khả quan, thì XK sang EU vẫn duy trì tăng trưởng dương, dù chỉ với mức tăng khiêm tốn 1,7% trong quý I/2014.Tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang các nước EU trong 3 tháng đầu năm đạt hơn 33,4 triệu USD. Như mọi năm, trong quý đầu năm, EU chủ yếu NK thăn cá ngừ đông lạnh nguyên liệu phục vụ cho sản xuất cá ngừ đóng hộp của Việt Nam (mã HS0304), nên tổng giá trị NK mặt hàng này của Việt Nam tăng hơn 54% so với cùng kỳ năm trước, đạt hơn 20,7 triệu USD. Còn lại XK các mặt hàng cá ngừ khác của Việt Nam sang EU đều giảm. XK cá ngừ tươi/sống/ đông lạnh giảm 95%, cá ngừ đóng hộp giảm 24%, cá ngừ chế biến khác giảm 76%.Theo số liệu thống kê của Trung tâm thương mại Quốc tế (ITC), NK cá ngừ của các nước EU trong tháng 1/2014 đạt hơn 475 triệu USD, tăng hơn 10,4% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, Tây Ban Nha là nước NK nhiều nhất cá ngừ trong khối EU, đạt hơn 131 triệu USD, tăng 8%. Tiếp đến là Italia đạt hơn 108 triệu USD, tăng 64%. Còn Đức đứng ở vị trí thứ 6, đạt gần 36 triệu USD, tăng 7%. Mặc dù NK cá ngừ của Đức, Italia và Tây Ban Nha tăng, nhưng XK cá ngừ của Việt Nam sang 3 thị trường này không theo xu hướng này. Ngoài Italia, XK cá ngừ của Việt Nam sang 2 nước còn lại trong 3 tháng đầu năm 2014 đều giảm.Đức tiếp tục là thị trường NK cá ngừ đóng hộp lớn nhất của Việt Nam. Năm nay, giá trị XK cá ngừ đóng hộp sang đây trong 3 tháng đầu năm chỉ đạt hơn 9 triệu USD, giảm 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, Việt Nam tăng từ vị trí thứ 7 lên thứ 5 trong các nước XK cá ngừ sang thị trường Đức. Với giá trị NK thăn cá ngừ đông lạnh trong quý I/2014 đạt tới hơn 6 triệu USD, tăng hơn 14% so với cùng kỳ năm ngoái, Italia tiếp tục là thị trường NK lớn nhất sản phẩm này của Việt Nam. Tuy nhiên, trong phân khúc  sản phẩm cá ngừ chế biến và đóng hộp, Việt Nam lại đang đánh mất thị trường này. Trong khi XK cá ngừ của Việt Nam vẫn còn chiếm thị phần rất khiêm tốn tại thị trường Italia, thì Thái Lan, Philippines và Indonesia lại chiếm thị phần chi phối và có xu hướng gia tăng tại thị trường này.Tương tự như Italia, trong quý I/2014, thị trường NK cá ngừ tươi, sống đông lạnh (trừ mã HS0304) và cá ngừ chế biến đóng hộp của Tây Ban Nha đang bị các DN Việt Nam bỏ ngỏ. Do đó, mặc dù giá trị XK thăn cá ngừ sang đây tăng gần 55%, nhưng vẫn không đủ bù đắp lại lượng sụt giảm trong XK các mặt hàng cá ngừ khác.Đối với sản phẩm cá ngừ đóng hộp, Philippines và Ecuador đang là hai đối thủ lớn khó vượt của Việt Nam. Ecuador với lợi thế về mặt thuế quan sẽ tiếp tục chiếm lĩnh thị trường này. Trong khi Philippines mặc dù cùng phải chịu mức thuế NK cao như Việt Nam là 20,5%, nhưng với ưu thế về khai thác, chủ động được nguồn nguyên liệu nên khả năng cạnh tranh cao hơn so với Việt Nam.Dự báo XK cá ngừ Việt Nam sang EU trong những tháng tới sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh trong phân khúc sản phẩm tươi/sống/đông lạnh, tuy nhiên do nguồn nguyên liệu hạn chế nên mức tăng trưởng sẽ không cao như năm ngoái.Nguyễn HàNguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1360) | Bình luận (0) | Facebook
Australia – Thị trường xuất khẩu thủy sản tiềm năng nhưng phải biết       Thương vụ Việt Nam tại Australia cho biết, nhu cầu tiêu thụ thủy sản của Australia hiện đã vượt xa khả năng sản xuất, khiến quốc gia này hằng năm phải nhập khẩu hơn 200 nghìn tấn thủy sản, trị giá khoảng một tỷ USD, trong đó Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ ba sau New Zealand và Trung Quốc, chiếm 20% thị phần.Tiềm năng rất lớnVới dân số hơn 23 triệu người (dự kiến tăng lên 40 triệu người vào năm 2050) và là một trong những nước có tiêu chuẩn sống cao nhất trên thế giới với mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người tăng từ 10kg/năm vào những năm 1990 lên khoảng 25kg/năm hiện nay. Tuy nhiên, mức tiêu thụ bình quân này vẫn còn thiếu 40% so với khuyến cáo của các tổ chức về sức khoẻ của nước này. Do vậy, nhu cầu tiêu thụ thủy sản của Australia sẽ còn tăng hơn nữa và là một thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.Tôm là loại hải sản được tiêu thụ nhiều nhất tại Australia, với khối lượng hằng năm lên tới 50 nghìn tấn, trong đó nhập khẩu khoảng 25 nghìn tấn. Tôm nuôi chỉ khoảng 4.000 tấn còn lại là đánh bắt tự nhiên. Tôm của Australia thường rất đắt nhưng được ưa chuộng vì tươi và người Australia thích mua hàng thực phẩm trong nước. Mặc dù vậy, ngày càng có nhiều người tiêu dùng chọn tôm đông lạnh nhập khẩu từ Thái Lan và Việt Nam do giá thành thấp hơn và chất lượng ngày càng được cải thiện (năm 2013, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Australia đạt hơn 128 triệu USD, tăng 27,5% so với năm 2012 và đây là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 6 của Việt Nam sau Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc và Hàn Quốc). Người tiêu dùng Australia chuộng tôm sú to.Loại hải sản được tiêu thụ nhiều thứ hai là cá hồi tươi Đại Tây Dương với hơn 80% được nuôi tại các trang trại ở Tasmania. Người tiêu dùng Australia thích loại cá này vì là sản phẩm trong nước, có hàm lượng Omega 3 trong cá tốt cho sức khoẻ.Loại hải sản được tiêu thụ nhiều thứ ba là cá basa, cũng là một lợi thế của Việt Nam. Tuy nhiên, những thông tin sai lệch về chất lượng và an toàn thực phẩm của cá basa (và tất cả các loại cá từ Đông Nam Á) đã phần nào làm hạn chế lượng tiêu thụ.Nói chung, người Australia chuộng cá nước mặn hơn cá nước ngọt bởi vì cá nước ngọt ở Australia tanh mùi bùn. Cá basa thành công ở Australia vì hầu hết người tiêu dùng ở đây không biết đó là cá nước mặn hay cá nước ngọt.Australia là thị trường xuất khẩu thủy sản tiềm năng của Việt Nam, nhưng cũng là quốc gia có các quy định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn sinh học. Hàng thủy sản của Việt Nam vẫn còn vài trường hợp dư lượng kháng sinh và dư lượng thuốc diệt nấm bị phát hiện và điều này sẽ ảnh hưởng đến uy tín của hàng Việt Nam nếu không loại trừ triệt để. Các trường hợp vi phạm do Bộ Nông nghiệp kiểm tra và phát hiện sẽ bị thông báo rộng rãi trên trang web của Chính phủ bao gồm cả tên nhà cung cấp và nước cung cấp. Ngoài ra, gần đây Australia phát hiện thủy sản Việt Nam bị bơm nước và tạp chất. Vấn đề này sẽ huỷ hoại hình ảnh của Việt Nam. Nó làm giảm giá trị và chất lượng của sản phẩm và tồi tệ nhất là thủy sản Việt Nam bị giảm giá trên thị trường.Nguồn cung hàng của Australia bị hạn chế bởi vì Australia chỉ có thể cung cấp 25% nhu cầu hiện nay, do vậy hầu hết người tiêu dùng chỉ có hai lựa chọn hoặc mua hàng nhập khẩu, hoặc không ăn hải sản. Thật đáng tiếc là nhiều người chọn không mua hải sản và hầu hết người Australia ăn ít hơn 40% lượng hải sản mà các cơ quan sức khoẻ khuyến cáo. Để khắc phục điều này, Australia cần nhập thêm hàng triệu tấn hải sản. Do vậy, tiềm năng từ thị trường này rất lớn nếu người tiêu dùng tin tưởng và quay sang lựa chọn các nhãn hiệu nhập khẩu. Việt Nam hiện là một trong ba nhà nhà cung cấp hải sản lớn nhất cho thị trường Australia nên chắc chắn sẽ tăng được thị phần nếu có cách tiếp cận và bước đi phù hợp.Cách tối ưu để đưa hải sản vào AustraliaGiải pháp ưu việt nhất là đưa hàng có chất lượng cao và xuất xứ tốt của sản phẩm và xây dựng hình ảnh sản phẩm của Việt Nam không kém hơn các sản phẩm của Australia. Điều này hoàn toàn có thể. Xuất xứ tốt của sản phẩm (không phải giá thấp) nên là trọng tâm chính cần hướng tới. An toàn thực phẩm, môi trường bền vững, đãi ngộ lao động, tất cả được minh chứng bằng một giấy xác nhận độc lập sẽ là con đường chúng ta phải đi. Nếu có thể, xây dựng vài câu chuyện về xuất xứ của các sản phẩm địa phương gắn với con người ở đấy. Nên nhớ “Người Australia muốn mua toàn bộ câu chuyện, không chỉ mỗi thức ăn”. Muốn thực sự hiểu thị trường, các nhà cung cấp nên đi thăm và dành thời gian để hiểu người tiêu dùng nghĩ gì và tìm giải pháp phù hợp cho hệ thống bán buôn và bán lẻ. Thiếu các kiến thức này, các nhà cung cấp sẽ gặp khó khăn trong chuỗi cung ứng.Nhưng thành công thực sự cho Việt Nam sẽ là việc cung cấp các sản phẩm đổi mới có giá trị gia tăng cao hơn là chỉ đơn giản cung cấp các nguyên liệu thô và chủng loại hàng rẻ tiền. Việc này sẽ giúp nâng tầm thương hiệu Việt Nam, xây dựng lòng tin đối với người tiêu dùng và thay đổi nhận thức về việc Việt Nam chỉ cung cấp các sản phẩm rẻ tiền mà người Australia thường quan niệm hàng rẻ tiền là hàng có chất lượng không tốt.XUÂN BÁCHNguồn: Báo Nhân Dân  Trích nguồn: http://thuongmai.vn    
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1331) | Bình luận (0) | Facebook
Quý I-2014, tổng kim ngạch XNK hàng hóa đạt gần 66 tỷ USD       Thông tin từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa quý I-2014 của Việt Nam đạt gần 66 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó xuất khẩu là 33,5 tỷ USD, tăng 14,8% và nhập khẩu là gần 32,4 tỷ USD, tăng 14,8%.Cụ thể, về xuất khẩu, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao là hàng dệt may đạt 4,4 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ; điện thoại các loại và linh kiện đạt gần 5,5 tỷ USD, tăng 23,9%; máy vi tính và sản phẩm điện tử, linh kiện đạt 2,2 tỷ USD, giảm 6,1%; giày dép các loại đạt 2,1 tỷ USD, tăng 23,8%; hàng thủy sản đạt 1,6 tỷ USD, tăng 35,3%; gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 22,6%; máy móc, thiết bị, phụ tùng và dụng cụ đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9,7%,…Về nhập khẩu, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu cao như máy móc, thiết bị, phụ tùng đạt 4,9 tỷ USD (tăng 28,3% so với cùng kỳ); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 4,2 tỷ USD (tăng 1,2%); điện thoại các loại và linh kiện đạt 2,1 tỷ USD (tăng 21,4%); vải các loại đạt 1,9 tỷ USD (tăng 18,9%); sắt thép các loại đạt 1,5 tỷ USD (giảm 3,7%); chất dẻo nguyên liệu đạt 1,4 tỷ USD (tăng 9,2%)...Ngoài ra, Cục Xuất nhập khẩu cho biết, có một số mặt hàng thuộc nhóm hàng nông sản, thủy sản tăng mạnh so với cùng kỳ, cụ thể là ngô đạt 1,6 triệu tấn với kim ngạch đạt 415,1 triệu USD (tăng 291,5% về lượng và 192,7% về kim ngạch); đậu tương đạt 445,0 triệu tấn với kim ngạch đạt 259,9 triệu USD (tăng 43,7% về lượng và 37,4% về kim ngạch); lúa mì đạt 502,5 triệu tấn với kim ngạch đạt 160,7 triệu USD (tăng 65,2% về lượng và 41,4% về kim ngạch); thủy sản đạt 258,5 triệu USD (tăng 91,7%).Tuy nhiên, theo Cục xuất nhập khẩu, một số mặt hàng lại có xu hướng sụt giảm so với cùng kỳ như phương tiện vận tải và phụ tùng (giảm 80,9%); nguyên phụ liệu thuốc lá (giảm 4,1%); xe máy và linh kiện, phụ tùng (giảm 26,8%); phân bón các loại (giảm 0,6% về lượng và 22,7% về kim ngạch); cao-su (giảm 1,5% về lượng và 14,7% về kim ngạch); phế liệu sắt thép (giảm 5,7% về lượng và 10,4% kim ngạch); hạt điều (giảm 30,6% về lượng và 18,4% về kim ngạch).THÁI ANNguồn: Báo Nhân Dân Trích nguồn: http://thuongmai.vn    
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1384) | Bình luận (0) | Facebook
5 tháng, xuất khẩu thủy sản tăng 25%, sản xuất tăng 3,2%     Theo số liệu vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong tháng 5 ước đạt 552 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm lên 2,83 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2013.Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 23,64% tổng giá trị xuất khẩu. Xuất khẩu thủy sản sang thị trường này 4 tháng đầu năm đạt 538,65 triệu USD, tăng 67,02% so với cùng kỳ năm 2013.Xuất khẩu thủy sản sang hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn khác cũng tăng mạnh trong 4 tháng đầu năm, như xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc tăng lần lượt 13,1%, 53,3% và 47,5%.Về hoạt động sản xuất, Bộ Nông nghiệp cho biết tổng sản lượng thuỷ sản của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm ước đạt 2,16 triệu tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong số đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 999 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ, còn sản lượng thủy sản khai thác đạt 1,16 triệu tấn, tăng 4,8%.Riêng thủy sản khai thác biển trong 5 tháng đầu năm đạt 1,1 triệu tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ.Về nuôi trồng thủy sản, diện tích nuôi cá tra của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long 5 tháng đầu năm ước đạt 5.500 ha với sản lượng 335 ngàn tấn.Sản lượng cá tra của một số tỉnh giảm so với cùng kỳ năm ngoái chủ yếu do giá cá tra nguyên liệu các tháng trước thấp nên người nuôi cho ăn cầm chừng, kéo dài thời gian, cá không đạt kích cỡ thu hoạch.Trong khi đó, tình hình sản xuất tôm sú tháng 5 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn ổn định so với tháng trước.Trung NghĩaNguồn: Người Đồng Hành Trích nguồn: http://thuongmai.vn      
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1386) | Bình luận (0) | Facebook
Một số nhóm hàng xuất khẩu chính 4 tháng năm 2014   Theo số liệu thống kê hàng hoá xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 4-2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước đạt 90,97 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó xuất khẩu đạt 46,51 tỷ USD, tăng 18,9%. Những nhóm hàng xuất khẩu chính gồm:Gạo: Tính đến hết tháng 4-2014 lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước giảm 5,8% xuống còn 2 triệu tấn và kim ngạch giảm 3,2% xuống còn 940 triệu USD.Trong 4 tháng năm 2014 xuất khẩu gạo sang Trung Quốc đạt 919 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 44,6% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Philipines trong 4 tháng đầu năm cao gấp 5 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 380 nghìn tấn. Xuất khẩu gạo của Việt Nam sang một số thị trường khác cũng tăng cao như sang Ghana đạt 95,5 nghìn tấn, tăng 48% so với cùng kỳ năm trước...Cà phê: Đến hết tháng 4-2014, lượng cà phê xuất khẩu đạt gần 812 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 1,62 tỷ USD, tăng 37,6% về lượng và tăng 28,1 % về trị giá so với cùng kỳ năm 2013.Cao su: Tổng lượng xuất khẩu mặt hàng cao su trong 4 tháng đạt gần 189 nghìn tấn, giảm 18% và trị giá đạt gần 377 triệu USD, giảm 38,4% so với cùng kỳ năm 2013.Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 4 tháng năm 2014 nhưng lượng xuất khẩu sang thị trường này đã giảm mạnh, chỉ đạt 71,7 nghìn tấn, giảm 37,6% so với 4 tháng năm 2013 và chiếm 38% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là Malaysia 29,8 nghìn tấn, giảm 22,7%; Ấn Độ 11,8 nghìn tấn, tăng 24,7%...Hàng thuỷ sản:  Tính đến hết tháng 4-2014, xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản cả nước đạt gần 2,28 tỷ USD, tăng mạnh 35% so với cùng kỳ năm trước.Hoa Kỳ là đối tác dẫn đầu nhập khẩu hàng thủy sản từ Việt Nam với kim ngạch trong 4 tháng năm 2014 đạt 540 triệu USD, tăng mạnh 67,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tiếp theo là EU với trị giá xuất khẩu đạt 399 triệu USD, tăng 26,7%; sang Nhật Bản đạt 321 triệu USD, tăng 13,1% so với 4 tháng đầu năm 2013.Dầu thô: Tổng lượng dầu thô xuất khẩu trong 4 tháng năm 2014 đạt 2,63 triệu tấn, giảm 3,1% và kim ngạch đạt 2,29 tỷ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước.Dầu thô của Việt Nam trong 4 tháng năm 2014 chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường sau: Nhật Bản đạt hơn 850 nghìn tấn, tăng nhẹ 0,2%; sang Australia 567 nghìn tấn, tăng 6,7%; sang Trung Quốc 489 nghìn tấn, gấp 4 lần; sang Malaysia 284 nghìn tấn, giảm mạnh 35,1% so với cùng kỳ năm trước.Than đá: Đến hết tháng 4-2014, lượng xuất khẩu than đá của cả nước là 3,4 triệu tấn, giảm 31,2% với trị giá là 251 triệu USD, giảm 27,5% so với cùng kỳ năm 2013.Trung Quốc vẫn  là đối tác lớn nhất nhập khẩu than đá của Việt Nam với 2,3 triệu tấn, giảm 43,5% và chiếm tới 69% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là Nhật Bản 455 nghìn tấn, tăng 54,8%; Hàn Quốc 400 nghìn tấn, tăng mạnh 70,3%… so với 4 tháng năm 2013.Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 4 tháng năm 2014 đạt gần 3 tỷ USD, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2013.Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 4 tháng qua với 603 triệu USD, giảm 16%; tiếp theo là thị trường EU 581 triệu USD, giảm 23,4%; Hoa Kỳ 450 triệu USD, tăng 18,5%; Malaysia 184  USD, giảm 44,1% ... so với cùng kỳ năm trước.Điện thoại các loại và linh kiện: Tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng đạt 8,08 tỷ USD, tăng 36% (tương ứng tăng 2,14 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.EU là thị trường lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này từ Việt Nam trong 4 tháng qua với kim ngạch nhập khẩu đạt 2,8 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2013. Kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện sang Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất xếp thứ hai với trị giá đạt 1,2 tỷ USD, tăng 17,6%. Đặc biệt, trong 4 tháng đầu năm 2014, xuất khẩu nhóm hàng này sang Hàn Quốc tăng gấp gần 25 lần so với cùng kỳ năm 2013, đạt 498 triệu USD.Hàng dệt may: Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng năm 2014 lên gần 6 tỷ USD, tăng mạnh 21,3% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ tiếp tục là đối tác lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam với kim ngạch đạt 2,95 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm hơn 49% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong 4 tháng qua sang EU đạt 830 triệu USD, tăng 24,6%; Nhật Bản đạt 784 triệu USD, tăng 13%; và Hàn Quốc 571 triệu USD, tăng 40% so với cùng kỳ năm 2013.Giày dép các loại: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng năm 2014 đạt gần 3 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước.Trong 4 tháng qua, trị giá xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam sang thị trường EU đạt 984 triệu USD, tăng 26,7%; Hoa Kỳ đạt 947 triệu USD, tăng 26,5%; Nhật Bản đạt 171 triệu USD, tăng 43,2%; Trung Quốc đạt 150 triệu USD, tăng 31,4%... so với cùng kỳ năm trước.Clanke và xi măng: Trong 4 tháng đầu năm 2014, lượng xuất khẩu nhóm hàng này đạt gần 8,4 triệu tấn (clanke đạt 6,2 triệu tấn và xi măng đạt 2,2 triệu tấn)  và dẫn đầu trong số những mặt hàng có thống kê về lượng.Như vậy, lượng xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng năm 2014 tăng 40,6%; trị giá đạt 355 triệu USD, tăng mạnh 43,3% so với cùng kỳ năm 2013.Bảo NhiNguồn: Báo Hải Quan Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1392) | Bình luận (0) | Facebook
8


Thành viên
 Lưu mật khẩu!   
 Lưu mật khẩu!
  
Thăm dò ý kiến
Nguồn thông tin bạn biết đến website?
Hổ trợ trực tuyến
Thành viên hiệp hội
Đối tác
Bảng quảng cáoBảng quảng cáo
Quảng cáo