Thứ sáu 20/07/2018
Thông tin thương mại giao nhận vận tải
Liên kết mạng xã hội
Tỷ giá ngoại tệ
Tài liệu mới
Liên kết website
Thống kê
001176107
Hôm nayHôm nay167
Hôm quaHôm qua392
Tuần nàyTuần này1771
Tháng nàyTháng này5907
Tất cảTất cả1176107
Hiện có 13 khách Trực tuyến
Tin tức
Xuất khẩu dệt may đạt hơn 7,4 tỉ USD     Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong năm tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc ước đạt hơn 7,4 tỉ USD, tăng 17% so với cùng kỳ.Trong đó sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên ước tăng 17%, sản lượng quần áo mặc thường tăng 12,5% so với cùng kỳ.Hiện nay, để chuẩn bị sẵn sàng điều kiện khai thác các cơ hội đến từ Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), sự chủ động về nguồn cung trong ngành (nhất là sợi, dệt nhuộm) đang gia tăng nhanh chóng. Một loạt doanh nghiệp sản xuất sợi quy mô lớn trong nước có kế hoạch mở rộng quy mô đầu tư, nâng cao năng lực cung cấp sợi, giảm dần giá trị nhập khẩu.Trước những căng thẳng về tình hình biển Đông trong thời gian vừa qua, để tránh việc phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã có công văn kêu gọi các doanh nghiệp trong ngành chủ động tìm các thị trường tiềm năng khác để nhập khẩu nguyên phụ liệu như Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Ấn Độ…MINH LONGNguồn: Báo điện tử Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh Trích nguồn: http://www.thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1360) | Bình luận (0) | Facebook
Kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc 4 tháng đạt gần 2,54 tỷ USD     Tháng 4/2014, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Hàn Quốc đạt mức tăng mạnh tới 83,4% so với tháng 3/2014, đạt trên 1,03 tỷ USD; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này 4 tháng đầu năm 2014 lên 2,54 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm ngoái.Những nhóm hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc đạt kim ngạch lớn gồm: dệt may, điện thoại, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính, giày dép. Trong đó, nhóm hàng hàng dệt may tiếp tục đứng đầu về kim ngạch với 570,61 triệu USD, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm ngoái; tuy nhiên, tính riêng trong tháng 4/2014, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này lại giảm 19,8% so với tháng trước, trị giá đạt hơn 131,3 triệu USD. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu áo khoác nữ và áo kiểu nữ, đầm nữ và đồ bơi sang Hàn Quốc.Nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện đã vươn lên đứng thứ 2 về kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc, đạt 497,81 triệu USD, tăng 2.380,5% so với cùng kỳ năm trước; Tiếp đến nhóm hàng thủy sản, đạt 177,62 triệu USD, tăng 50,5% so với cùng kỳ năm ngoái; tính riêng trong tháng 4/2014, mặt hàng này tăng 2,7% so với tháng trước, trị giá đạt 52,1 triệu USD.Nhìn chung trong 4 tháng đầu năm 2014, hầu hết các mặt hàng của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc đều có mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng đột biến tới 2.380% về kim ngạch; bên cạnh đó, xuất khẩu sang một số thị trường cũng tăng cao trên 100% so cùng kỳ như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (+966%); quặng và khoáng sản khác (+855,8%); sắt thép (+277,6%); thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh (+171,7%). Ngược lại, xuất khẩu nhóm hàng phương tiện vận tải và phụ tùng lại sụt giảm mạnh tới 80,0% so với cùng kỳ năm trước.    Thủy ChungNguồn: Bộ Công Thương Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1378) | Bình luận (0) | Facebook
Xuất khẩu điện thoại và linh kiện 4 tháng đầu năm tăng trưởng mạnh     Kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện tháng 4/2014 tăng 29,72% so với tháng trước đó, đạt 2,61 tỷ USD; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng đầu năm 2014 lên 8,08 tỷ USD, dẫn đầu trong tất cả các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 17,37% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất là thị trường tiêu thụ nhiếu nhất nhóm hàng này của Việt Nam, chiếm 14,84% tổng kim ngạch, đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 17,54% so với cùng kỳ năm ngoái; Hoa Kỳ đứng vị trí thứ 2 với 515,57 triệu USD, chiếm 6,38%, tăng 505,63%; tiếp đến Áo 514,95 triệu USD, chiếm 6,38%, tăng 16,27%; Hàn Quốc 497,81 triệu USD, chiếm 6,16%, tăng 2.380%; Anh 442,75 triệu USD, chiếm 5,48%, tăng 27,17%; Đức 406,91 triệu USD, chiếm 5,04%, giảm 30,38%.Xuất khẩu nhóm hàng này 4 tháng đầu năm sang đa số các thị trường đều tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó đáng chú ý nhất là xuất khẩu sang Hàn Quốc tuy đứng thứ 4 về kim ngạch, nhưng so với cùng kỳ đạt mức tăng rất mạnh tới 2.380%; bên cạnh đó là các thị trường cũng tăng 100% so cùng kỳ như: Hoa Kỳ (+505,63%), Braxin (+322,92%), Thổ Nhĩ Kỳ (+159,23%), Trung quốc (+107,11%). Ngược lại, xuất khẩu điện thoại sang Campuchia lại sụt giảm mạnh trên 84% so với cùng kỳ năm ngoái.        Hiện tại, sản phẩm điện thoại và linh kiện xuất khẩu hầu hết là của nhà máy Samsung Electronics Việt Nam. Nhà máy tại Việt Nam là nhà máy sản xuất điện thoại di động lớn nhất trên thế giới của Samsung, với khả năng cung cấp các sản phẩm điện thoại di động và máy tính bảng (từ dòng phổ thông đến dòng cao cấp mới nhất) cho thị trường toàn cầu. Năm 2013 Samsung Vina Electronics XK đạt 23,9 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch XK của cả nước; tùy theo sản phẩm, mức  tỉ lệ nội địa hóa đang đạt từ 30-33%. Nhà máy Samsung Electronics Việt Nam (tại Bắc Ninh) đang chủ yếu sản xuất dòng điện thoại thông minh (smartphone). Hiện nhà máy này đã sản xuất và xuất khẩu đạt 35% lượng smartphone Galaxy mà Samsung bán ra thị trường toàn cầu.Mục tiêu của Samsung trong thời gian tới là tập trung mở rộng nhà máy tại Việt Nam, đẩy mạnh lượng sản xuất và khẩu khẩu các dòng smartphone sản xuất tại Việt Nam chiếm 50% lượng smartphone của hãng bán ra trên toàn cầu.Samsung đã tiếp tục đầu tư Dự án Khu tổ hợp công nghệ cao Samsung Thái Nguyên (SEVT) tại KCN Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên, tổng diện tích 100 ha, với công suất thiết kế 100 triệu sản phẩm mỗi năm. Nhà máy đầu tiên của dự án sẽ chuyên sản xuất các thiết bị di động và các linh kiện cho điện thoại di động đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 3-2014. Dự kiến đến cuối tháng 12-2014, nhà máy sẽ có 16.000 nhân viên và đạt công suất 8 triệu sản phẩm/tháng.  Thủy ChungNguồn:Bộ Công Thương Trích nguồn: http://thuongmai.vn/
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1388) | Bình luận (0) | Facebook
Australia – Thị trường xuất khẩu thủy sản tiềm năng nhưng phải biết       Thương vụ Việt Nam tại Australia cho biết, nhu cầu tiêu thụ thủy sản của Australia hiện đã vượt xa khả năng sản xuất, khiến quốc gia này hằng năm phải nhập khẩu hơn 200 nghìn tấn thủy sản, trị giá khoảng một tỷ USD, trong đó Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ ba sau New Zealand và Trung Quốc, chiếm 20% thị phần.Tiềm năng rất lớnVới dân số hơn 23 triệu người (dự kiến tăng lên 40 triệu người vào năm 2050) và là một trong những nước có tiêu chuẩn sống cao nhất trên thế giới với mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người tăng từ 10kg/năm vào những năm 1990 lên khoảng 25kg/năm hiện nay. Tuy nhiên, mức tiêu thụ bình quân này vẫn còn thiếu 40% so với khuyến cáo của các tổ chức về sức khoẻ của nước này. Do vậy, nhu cầu tiêu thụ thủy sản của Australia sẽ còn tăng hơn nữa và là một thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.Tôm là loại hải sản được tiêu thụ nhiều nhất tại Australia, với khối lượng hằng năm lên tới 50 nghìn tấn, trong đó nhập khẩu khoảng 25 nghìn tấn. Tôm nuôi chỉ khoảng 4.000 tấn còn lại là đánh bắt tự nhiên. Tôm của Australia thường rất đắt nhưng được ưa chuộng vì tươi và người Australia thích mua hàng thực phẩm trong nước. Mặc dù vậy, ngày càng có nhiều người tiêu dùng chọn tôm đông lạnh nhập khẩu từ Thái Lan và Việt Nam do giá thành thấp hơn và chất lượng ngày càng được cải thiện (năm 2013, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Australia đạt hơn 128 triệu USD, tăng 27,5% so với năm 2012 và đây là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 6 của Việt Nam sau Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc và Hàn Quốc). Người tiêu dùng Australia chuộng tôm sú to.Loại hải sản được tiêu thụ nhiều thứ hai là cá hồi tươi Đại Tây Dương với hơn 80% được nuôi tại các trang trại ở Tasmania. Người tiêu dùng Australia thích loại cá này vì là sản phẩm trong nước, có hàm lượng Omega 3 trong cá tốt cho sức khoẻ.Loại hải sản được tiêu thụ nhiều thứ ba là cá basa, cũng là một lợi thế của Việt Nam. Tuy nhiên, những thông tin sai lệch về chất lượng và an toàn thực phẩm của cá basa (và tất cả các loại cá từ Đông Nam Á) đã phần nào làm hạn chế lượng tiêu thụ.Nói chung, người Australia chuộng cá nước mặn hơn cá nước ngọt bởi vì cá nước ngọt ở Australia tanh mùi bùn. Cá basa thành công ở Australia vì hầu hết người tiêu dùng ở đây không biết đó là cá nước mặn hay cá nước ngọt.Australia là thị trường xuất khẩu thủy sản tiềm năng của Việt Nam, nhưng cũng là quốc gia có các quy định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn sinh học. Hàng thủy sản của Việt Nam vẫn còn vài trường hợp dư lượng kháng sinh và dư lượng thuốc diệt nấm bị phát hiện và điều này sẽ ảnh hưởng đến uy tín của hàng Việt Nam nếu không loại trừ triệt để. Các trường hợp vi phạm do Bộ Nông nghiệp kiểm tra và phát hiện sẽ bị thông báo rộng rãi trên trang web của Chính phủ bao gồm cả tên nhà cung cấp và nước cung cấp. Ngoài ra, gần đây Australia phát hiện thủy sản Việt Nam bị bơm nước và tạp chất. Vấn đề này sẽ huỷ hoại hình ảnh của Việt Nam. Nó làm giảm giá trị và chất lượng của sản phẩm và tồi tệ nhất là thủy sản Việt Nam bị giảm giá trên thị trường.Nguồn cung hàng của Australia bị hạn chế bởi vì Australia chỉ có thể cung cấp 25% nhu cầu hiện nay, do vậy hầu hết người tiêu dùng chỉ có hai lựa chọn hoặc mua hàng nhập khẩu, hoặc không ăn hải sản. Thật đáng tiếc là nhiều người chọn không mua hải sản và hầu hết người Australia ăn ít hơn 40% lượng hải sản mà các cơ quan sức khoẻ khuyến cáo. Để khắc phục điều này, Australia cần nhập thêm hàng triệu tấn hải sản. Do vậy, tiềm năng từ thị trường này rất lớn nếu người tiêu dùng tin tưởng và quay sang lựa chọn các nhãn hiệu nhập khẩu. Việt Nam hiện là một trong ba nhà nhà cung cấp hải sản lớn nhất cho thị trường Australia nên chắc chắn sẽ tăng được thị phần nếu có cách tiếp cận và bước đi phù hợp.Cách tối ưu để đưa hải sản vào AustraliaGiải pháp ưu việt nhất là đưa hàng có chất lượng cao và xuất xứ tốt của sản phẩm và xây dựng hình ảnh sản phẩm của Việt Nam không kém hơn các sản phẩm của Australia. Điều này hoàn toàn có thể. Xuất xứ tốt của sản phẩm (không phải giá thấp) nên là trọng tâm chính cần hướng tới. An toàn thực phẩm, môi trường bền vững, đãi ngộ lao động, tất cả được minh chứng bằng một giấy xác nhận độc lập sẽ là con đường chúng ta phải đi. Nếu có thể, xây dựng vài câu chuyện về xuất xứ của các sản phẩm địa phương gắn với con người ở đấy. Nên nhớ “Người Australia muốn mua toàn bộ câu chuyện, không chỉ mỗi thức ăn”. Muốn thực sự hiểu thị trường, các nhà cung cấp nên đi thăm và dành thời gian để hiểu người tiêu dùng nghĩ gì và tìm giải pháp phù hợp cho hệ thống bán buôn và bán lẻ. Thiếu các kiến thức này, các nhà cung cấp sẽ gặp khó khăn trong chuỗi cung ứng.Nhưng thành công thực sự cho Việt Nam sẽ là việc cung cấp các sản phẩm đổi mới có giá trị gia tăng cao hơn là chỉ đơn giản cung cấp các nguyên liệu thô và chủng loại hàng rẻ tiền. Việc này sẽ giúp nâng tầm thương hiệu Việt Nam, xây dựng lòng tin đối với người tiêu dùng và thay đổi nhận thức về việc Việt Nam chỉ cung cấp các sản phẩm rẻ tiền mà người Australia thường quan niệm hàng rẻ tiền là hàng có chất lượng không tốt.XUÂN BÁCHNguồn: Báo Nhân Dân  Trích nguồn: http://thuongmai.vn    
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1353) | Bình luận (0) | Facebook
Xuất khẩu cá ngừ sang EU vẫn khả quan     Trong khi XK cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ và Nhật Bản vẫn chưa có dấu hiệu khả quan, thì XK sang EU vẫn duy trì tăng trưởng dương, dù chỉ với mức tăng khiêm tốn 1,7% trong quý I/2014.Tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang các nước EU trong 3 tháng đầu năm đạt hơn 33,4 triệu USD. Như mọi năm, trong quý đầu năm, EU chủ yếu NK thăn cá ngừ đông lạnh nguyên liệu phục vụ cho sản xuất cá ngừ đóng hộp của Việt Nam (mã HS0304), nên tổng giá trị NK mặt hàng này của Việt Nam tăng hơn 54% so với cùng kỳ năm trước, đạt hơn 20,7 triệu USD. Còn lại XK các mặt hàng cá ngừ khác của Việt Nam sang EU đều giảm. XK cá ngừ tươi/sống/ đông lạnh giảm 95%, cá ngừ đóng hộp giảm 24%, cá ngừ chế biến khác giảm 76%.Theo số liệu thống kê của Trung tâm thương mại Quốc tế (ITC), NK cá ngừ của các nước EU trong tháng 1/2014 đạt hơn 475 triệu USD, tăng hơn 10,4% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, Tây Ban Nha là nước NK nhiều nhất cá ngừ trong khối EU, đạt hơn 131 triệu USD, tăng 8%. Tiếp đến là Italia đạt hơn 108 triệu USD, tăng 64%. Còn Đức đứng ở vị trí thứ 6, đạt gần 36 triệu USD, tăng 7%. Mặc dù NK cá ngừ của Đức, Italia và Tây Ban Nha tăng, nhưng XK cá ngừ của Việt Nam sang 3 thị trường này không theo xu hướng này. Ngoài Italia, XK cá ngừ của Việt Nam sang 2 nước còn lại trong 3 tháng đầu năm 2014 đều giảm.Đức tiếp tục là thị trường NK cá ngừ đóng hộp lớn nhất của Việt Nam. Năm nay, giá trị XK cá ngừ đóng hộp sang đây trong 3 tháng đầu năm chỉ đạt hơn 9 triệu USD, giảm 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, Việt Nam tăng từ vị trí thứ 7 lên thứ 5 trong các nước XK cá ngừ sang thị trường Đức. Với giá trị NK thăn cá ngừ đông lạnh trong quý I/2014 đạt tới hơn 6 triệu USD, tăng hơn 14% so với cùng kỳ năm ngoái, Italia tiếp tục là thị trường NK lớn nhất sản phẩm này của Việt Nam. Tuy nhiên, trong phân khúc  sản phẩm cá ngừ chế biến và đóng hộp, Việt Nam lại đang đánh mất thị trường này. Trong khi XK cá ngừ của Việt Nam vẫn còn chiếm thị phần rất khiêm tốn tại thị trường Italia, thì Thái Lan, Philippines và Indonesia lại chiếm thị phần chi phối và có xu hướng gia tăng tại thị trường này.Tương tự như Italia, trong quý I/2014, thị trường NK cá ngừ tươi, sống đông lạnh (trừ mã HS0304) và cá ngừ chế biến đóng hộp của Tây Ban Nha đang bị các DN Việt Nam bỏ ngỏ. Do đó, mặc dù giá trị XK thăn cá ngừ sang đây tăng gần 55%, nhưng vẫn không đủ bù đắp lại lượng sụt giảm trong XK các mặt hàng cá ngừ khác.Đối với sản phẩm cá ngừ đóng hộp, Philippines và Ecuador đang là hai đối thủ lớn khó vượt của Việt Nam. Ecuador với lợi thế về mặt thuế quan sẽ tiếp tục chiếm lĩnh thị trường này. Trong khi Philippines mặc dù cùng phải chịu mức thuế NK cao như Việt Nam là 20,5%, nhưng với ưu thế về khai thác, chủ động được nguồn nguyên liệu nên khả năng cạnh tranh cao hơn so với Việt Nam.Dự báo XK cá ngừ Việt Nam sang EU trong những tháng tới sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh trong phân khúc sản phẩm tươi/sống/đông lạnh, tuy nhiên do nguồn nguyên liệu hạn chế nên mức tăng trưởng sẽ không cao như năm ngoái.Nguyễn HàNguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1381) | Bình luận (0) | Facebook
5 tháng, xuất khẩu thủy sản tăng 25%, sản xuất tăng 3,2%     Theo số liệu vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong tháng 5 ước đạt 552 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm lên 2,83 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2013.Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 23,64% tổng giá trị xuất khẩu. Xuất khẩu thủy sản sang thị trường này 4 tháng đầu năm đạt 538,65 triệu USD, tăng 67,02% so với cùng kỳ năm 2013.Xuất khẩu thủy sản sang hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn khác cũng tăng mạnh trong 4 tháng đầu năm, như xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc tăng lần lượt 13,1%, 53,3% và 47,5%.Về hoạt động sản xuất, Bộ Nông nghiệp cho biết tổng sản lượng thuỷ sản của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm ước đạt 2,16 triệu tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong số đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 999 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ, còn sản lượng thủy sản khai thác đạt 1,16 triệu tấn, tăng 4,8%.Riêng thủy sản khai thác biển trong 5 tháng đầu năm đạt 1,1 triệu tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ.Về nuôi trồng thủy sản, diện tích nuôi cá tra của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long 5 tháng đầu năm ước đạt 5.500 ha với sản lượng 335 ngàn tấn.Sản lượng cá tra của một số tỉnh giảm so với cùng kỳ năm ngoái chủ yếu do giá cá tra nguyên liệu các tháng trước thấp nên người nuôi cho ăn cầm chừng, kéo dài thời gian, cá không đạt kích cỡ thu hoạch.Trong khi đó, tình hình sản xuất tôm sú tháng 5 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn ổn định so với tháng trước.Trung NghĩaNguồn: Người Đồng Hành Trích nguồn: http://thuongmai.vn      
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1405) | Bình luận (0) | Facebook
Quý I-2014, tổng kim ngạch XNK hàng hóa đạt gần 66 tỷ USD       Thông tin từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa quý I-2014 của Việt Nam đạt gần 66 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó xuất khẩu là 33,5 tỷ USD, tăng 14,8% và nhập khẩu là gần 32,4 tỷ USD, tăng 14,8%.Cụ thể, về xuất khẩu, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao là hàng dệt may đạt 4,4 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ; điện thoại các loại và linh kiện đạt gần 5,5 tỷ USD, tăng 23,9%; máy vi tính và sản phẩm điện tử, linh kiện đạt 2,2 tỷ USD, giảm 6,1%; giày dép các loại đạt 2,1 tỷ USD, tăng 23,8%; hàng thủy sản đạt 1,6 tỷ USD, tăng 35,3%; gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 22,6%; máy móc, thiết bị, phụ tùng và dụng cụ đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9,7%,…Về nhập khẩu, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu cao như máy móc, thiết bị, phụ tùng đạt 4,9 tỷ USD (tăng 28,3% so với cùng kỳ); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 4,2 tỷ USD (tăng 1,2%); điện thoại các loại và linh kiện đạt 2,1 tỷ USD (tăng 21,4%); vải các loại đạt 1,9 tỷ USD (tăng 18,9%); sắt thép các loại đạt 1,5 tỷ USD (giảm 3,7%); chất dẻo nguyên liệu đạt 1,4 tỷ USD (tăng 9,2%)...Ngoài ra, Cục Xuất nhập khẩu cho biết, có một số mặt hàng thuộc nhóm hàng nông sản, thủy sản tăng mạnh so với cùng kỳ, cụ thể là ngô đạt 1,6 triệu tấn với kim ngạch đạt 415,1 triệu USD (tăng 291,5% về lượng và 192,7% về kim ngạch); đậu tương đạt 445,0 triệu tấn với kim ngạch đạt 259,9 triệu USD (tăng 43,7% về lượng và 37,4% về kim ngạch); lúa mì đạt 502,5 triệu tấn với kim ngạch đạt 160,7 triệu USD (tăng 65,2% về lượng và 41,4% về kim ngạch); thủy sản đạt 258,5 triệu USD (tăng 91,7%).Tuy nhiên, theo Cục xuất nhập khẩu, một số mặt hàng lại có xu hướng sụt giảm so với cùng kỳ như phương tiện vận tải và phụ tùng (giảm 80,9%); nguyên phụ liệu thuốc lá (giảm 4,1%); xe máy và linh kiện, phụ tùng (giảm 26,8%); phân bón các loại (giảm 0,6% về lượng và 22,7% về kim ngạch); cao-su (giảm 1,5% về lượng và 14,7% về kim ngạch); phế liệu sắt thép (giảm 5,7% về lượng và 10,4% kim ngạch); hạt điều (giảm 30,6% về lượng và 18,4% về kim ngạch).THÁI ANNguồn: Báo Nhân Dân Trích nguồn: http://thuongmai.vn    
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1407) | Bình luận (0) | Facebook
Xuất khẩu nông, lâm-thủy sản năm tháng đạt 12,12 tỷ USD     Theo thông tin mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 5/2014 ước đạt 2,278 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành năm tháng đầu năm lên 12,12 tỷ USD; tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2013.Trong số đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản ước đạt 5,94 tỷ USD, tăng 5,1%; giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 2,83 tỷ USD, tăng 25%; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản ước đạt 2,46 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013.Càphê và hạt tiêu, hạt điều, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục duy trì là ngành hàng có sự gia tăng cả về sản lượng cũng như giá trị; còn những mặt hàng chính như gạo, cao su, chè, sắn và các sản phẩm sắn… lại có sự sụt giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái.Cụ thể, sản lượng xuất khẩu càphê trong tháng 5/2014 ước đạt 154 nghìn tấn với giá trị đạt 336 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê năm tháng đầu năm ước đạt 966 nghìn tấn và đạt giá trị 1,96 tỷ USD; tăng 36,7% về khối lượng và tăng 29% về giá trị so cùng kỳ năm 2013.Tiếp tục có sự tăng trưởng mạnh là ngành tiêu tăng 33,6% về khối lượng và tăng 42,3% về giá trị. Theo đó, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng Năm ước đạt 17 nghìn tấn, với giá trị đạt 126 triệu USD; đưa khối lượng xuất khẩu tiêu năm tháng đầu năm lên 92 nghìn tấn và giá trị đạt 645 triệu USD.Ngành hạt điều liên tiếp có sự tăng trưởng cả về khối lượng và giá trị, tăng tương ứng 10,8% và 11,5% so với cùng kỳ năm 2013. Cụ thể: Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng Năm ước đạt 23 nghìn tấn với giá trị đạt 151 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu năm tháng đầu năm 2014 đạt 98 nghìn tấn với 618 triệu USD.Đặc biệt, ngành thủy sản vẫn duy trì là ngành xuất khẩu mũi nhọn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành với giá trị xuất khẩu thủy sản tháng Năm ước đạt 552 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu năm tháng đầu năm đạt 2,83 tỷ USD; tăng 25% so với cùng kỳ năm 2013.Bên cạnh đó, nhiều ngành hàng lại có sự sụt giảm cả về giá trị và sản lượng xuất khẩu; sụt giảm mạnh nhất là ngành hàng cao su, giảm 20,2% về khối lượng và giảm 39,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Theo đó, ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 5/2014 đạt 51 nghìn tấn với giá trị 96 triệu USD; xuất khẩu cao su trong năm tháng chỉ đạt 239 nghìn tấn, với giá trị đạt 473 triệu USD.Đáng chú ý, ngành lúa gạo vẫn theo đà sụt giảm từ đầu năm tới nay, khối lượng gạo trong năm tháng giảm 10,2% và giảm 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 5/2014 ước đạt 591 nghìn tấn với giá trị 259 triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu gạo năm tháng đầu năm 2014 ước đạt 2,65 triệu tấn và giá trị ước đạt 1,19 tỷ USD./.Thanh TâmNguồn: Vietnam+ Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1355) | Bình luận (0) | Facebook
Một số nhóm hàng xuất khẩu chính 4 tháng năm 2014   Theo số liệu thống kê hàng hoá xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 4-2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước đạt 90,97 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó xuất khẩu đạt 46,51 tỷ USD, tăng 18,9%. Những nhóm hàng xuất khẩu chính gồm:Gạo: Tính đến hết tháng 4-2014 lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước giảm 5,8% xuống còn 2 triệu tấn và kim ngạch giảm 3,2% xuống còn 940 triệu USD.Trong 4 tháng năm 2014 xuất khẩu gạo sang Trung Quốc đạt 919 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 44,6% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Philipines trong 4 tháng đầu năm cao gấp 5 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 380 nghìn tấn. Xuất khẩu gạo của Việt Nam sang một số thị trường khác cũng tăng cao như sang Ghana đạt 95,5 nghìn tấn, tăng 48% so với cùng kỳ năm trước...Cà phê: Đến hết tháng 4-2014, lượng cà phê xuất khẩu đạt gần 812 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 1,62 tỷ USD, tăng 37,6% về lượng và tăng 28,1 % về trị giá so với cùng kỳ năm 2013.Cao su: Tổng lượng xuất khẩu mặt hàng cao su trong 4 tháng đạt gần 189 nghìn tấn, giảm 18% và trị giá đạt gần 377 triệu USD, giảm 38,4% so với cùng kỳ năm 2013.Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 4 tháng năm 2014 nhưng lượng xuất khẩu sang thị trường này đã giảm mạnh, chỉ đạt 71,7 nghìn tấn, giảm 37,6% so với 4 tháng năm 2013 và chiếm 38% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là Malaysia 29,8 nghìn tấn, giảm 22,7%; Ấn Độ 11,8 nghìn tấn, tăng 24,7%...Hàng thuỷ sản:  Tính đến hết tháng 4-2014, xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản cả nước đạt gần 2,28 tỷ USD, tăng mạnh 35% so với cùng kỳ năm trước.Hoa Kỳ là đối tác dẫn đầu nhập khẩu hàng thủy sản từ Việt Nam với kim ngạch trong 4 tháng năm 2014 đạt 540 triệu USD, tăng mạnh 67,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tiếp theo là EU với trị giá xuất khẩu đạt 399 triệu USD, tăng 26,7%; sang Nhật Bản đạt 321 triệu USD, tăng 13,1% so với 4 tháng đầu năm 2013.Dầu thô: Tổng lượng dầu thô xuất khẩu trong 4 tháng năm 2014 đạt 2,63 triệu tấn, giảm 3,1% và kim ngạch đạt 2,29 tỷ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước.Dầu thô của Việt Nam trong 4 tháng năm 2014 chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường sau: Nhật Bản đạt hơn 850 nghìn tấn, tăng nhẹ 0,2%; sang Australia 567 nghìn tấn, tăng 6,7%; sang Trung Quốc 489 nghìn tấn, gấp 4 lần; sang Malaysia 284 nghìn tấn, giảm mạnh 35,1% so với cùng kỳ năm trước.Than đá: Đến hết tháng 4-2014, lượng xuất khẩu than đá của cả nước là 3,4 triệu tấn, giảm 31,2% với trị giá là 251 triệu USD, giảm 27,5% so với cùng kỳ năm 2013.Trung Quốc vẫn  là đối tác lớn nhất nhập khẩu than đá của Việt Nam với 2,3 triệu tấn, giảm 43,5% và chiếm tới 69% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là Nhật Bản 455 nghìn tấn, tăng 54,8%; Hàn Quốc 400 nghìn tấn, tăng mạnh 70,3%… so với 4 tháng năm 2013.Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 4 tháng năm 2014 đạt gần 3 tỷ USD, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2013.Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 4 tháng qua với 603 triệu USD, giảm 16%; tiếp theo là thị trường EU 581 triệu USD, giảm 23,4%; Hoa Kỳ 450 triệu USD, tăng 18,5%; Malaysia 184  USD, giảm 44,1% ... so với cùng kỳ năm trước.Điện thoại các loại và linh kiện: Tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng đạt 8,08 tỷ USD, tăng 36% (tương ứng tăng 2,14 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.EU là thị trường lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này từ Việt Nam trong 4 tháng qua với kim ngạch nhập khẩu đạt 2,8 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2013. Kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện sang Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất xếp thứ hai với trị giá đạt 1,2 tỷ USD, tăng 17,6%. Đặc biệt, trong 4 tháng đầu năm 2014, xuất khẩu nhóm hàng này sang Hàn Quốc tăng gấp gần 25 lần so với cùng kỳ năm 2013, đạt 498 triệu USD.Hàng dệt may: Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng năm 2014 lên gần 6 tỷ USD, tăng mạnh 21,3% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ tiếp tục là đối tác lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam với kim ngạch đạt 2,95 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm hơn 49% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong 4 tháng qua sang EU đạt 830 triệu USD, tăng 24,6%; Nhật Bản đạt 784 triệu USD, tăng 13%; và Hàn Quốc 571 triệu USD, tăng 40% so với cùng kỳ năm 2013.Giày dép các loại: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng năm 2014 đạt gần 3 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước.Trong 4 tháng qua, trị giá xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam sang thị trường EU đạt 984 triệu USD, tăng 26,7%; Hoa Kỳ đạt 947 triệu USD, tăng 26,5%; Nhật Bản đạt 171 triệu USD, tăng 43,2%; Trung Quốc đạt 150 triệu USD, tăng 31,4%... so với cùng kỳ năm trước.Clanke và xi măng: Trong 4 tháng đầu năm 2014, lượng xuất khẩu nhóm hàng này đạt gần 8,4 triệu tấn (clanke đạt 6,2 triệu tấn và xi măng đạt 2,2 triệu tấn)  và dẫn đầu trong số những mặt hàng có thống kê về lượng.Như vậy, lượng xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng năm 2014 tăng 40,6%; trị giá đạt 355 triệu USD, tăng mạnh 43,3% so với cùng kỳ năm 2013.Bảo NhiNguồn: Báo Hải Quan Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1413) | Bình luận (0) | Facebook
Tín hiệu tốt (22/05/2014)
Tín hiệu tốt     Từ nhập siêu chuyển sang xuất siêu; từ con số khiêm tốn, thặng dư thương mại 4 tháng đầu năm nay đã đạt mức kỷ lục với trên 2 tỉ USD... Nền kinh tế đang có những dấu hiệu tích cực và quan trọng hơn, nó cho thấy nhiều doanh nghiệp đã thực sự bứt ra khỏi giai đoạn khó khăn nhất để tồn tại và phát triển.Đóng góp chủ yếu vào con số xuất siêu trên 2 tỉ USD trong 4 tháng đầu năm vẫn là các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Điều này chứng tỏ môi trường trong nước vẫn đang thuận lợi, vẫn tạo ra cơ hội sinh lời cho các nhà đầu tư ngoại bất chấp kinh tế toàn cầu chưa thực sự thoát khỏi dư chấn của cuộc khủng hoảng. Đây cũng là lý do một loạt các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục tăng vốn, mở rộng quy mô tại VN. Dù chỗ này chỗ kia vẫn tồn tại một số bất cập; dù có xảy ra một vài sự cố ngoài ý muốn nhưng với cộng đồng DN nói chung, kinh doanh hiệu quả là minh chứng rõ ràng nhất, cụ thể nhất cho những cam kết về môi trường đầu tư của Chính phủ.Đóng góp ít hơn nhưng con số thặng dư kỷ lục lại có ý nghĩa đặc biệt với các DN trong nước. Bởi trong 5 ngành có mức thặng dư cao nhất gồm dệt may, đồ gỗ, công nghệ thông tin, da giày, thủy sản hầu hết là những ngành truyền thống với sự tham gia của rất nhiều DN nội địa. Họ có thể góp ít, thậm chí không góp phần vào con số 2 tỉ USD thặng dư nói trên nhưng điều quan trọng hơn sau con số này là họ vẫn đang tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu của VN. Đây là sự nỗ lực cực lớn của các DN trong nước nếu nhìn lại những gì họ đã trải qua.Chúng ta đều biết, đa số DN nội địa có quy mô nhỏ, vốn ít nhưng trong chưa đầy 6 năm qua, họ cùng lúc phải đối mặt với 3 "cuộc chiến". Đầu tiên là cuộc cạnh tranh với các công ty nước ngoài ngay tại sân nhà khi VN chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007. Đúng 1 năm sau, khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra, "cuộc chiến" tìm thị trường mới, tăng chất lượng - giảm giá thành để giành hợp đồng... đã khiến không ít công ty phá sản. Bên ngoài cam go, trong nước càng chật vật hơn khi lạm phát tăng vọt, lãi suất bị đẩy lên trời. Cuộc chiến với chi phí đầu vào tăng, sức mua giảm, tồn kho không thể giải phóng tiếp tục bào mòn sức khỏe cộng đồng DN. Trong bối cảnh đó, những DN vẫn giữ được thị trường, vẫn tham gia vào quy trình sản xuất, xuất khẩu đã khẳng định bản lĩnh và sức sống của họ. Hay nói cách khác, họ đã thoát khỏi giai đoạn "cầm cự" để chuyển sang giai đoạn phục hồi trở lại.Đến lúc này, khó khăn vẫn còn nhưng các chỉ số vĩ mô đã "sáng" hơn. Lạm phát được kiềm chế, tỷ giá ổn định, lãi suất đã giảm, xuất khẩu tăng mạnh, xuất siêu đạt kỷ lục... Những tín hiệu tích cực của nền kinh tế ngày càng trở nên rõ ràng hơn, chắc chắn hơn khi vốn từ hệ thống ngân hàng đã bắt đầu chảy vào sản xuất, bắt đầu đến được tay doanh nghiệp. Chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng, những DN đã "kinh qua" 3 "cuộc chiến" nói trên để "sống" đến hôm nay sẽ nhanh chóng khẳng định vị trí của mình trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu.Nguyên KhanhNguồn: Báo Thanh Niên Trích nguồn: http://thuongmai.vn
PDF. | In | Email |
( 0 Votes )
| Lượt xem (1340) | Bình luận (0) | Facebook
9


Thành viên
 Lưu mật khẩu!   
 Lưu mật khẩu!
  
Thăm dò ý kiến
Nguồn thông tin bạn biết đến website?
Hổ trợ trực tuyến
Thành viên hiệp hội
Đối tác
Bảng quảng cáoBảng quảng cáo
Quảng cáo